• Trường THPT Kon Tum
  • Số 04 Trần Phú

Lịch Sử 6: Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân cổ Kon Tum

1. Đời sống vật chất

- Với khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, Kon Tum có hai mùa mưa, khô rõ rệt. Vào mùa khô, cư dân ở đây tiến hành phát đốt nương rẫy và đợi mùa mưa đến để trồng trỉa. Các vùng đất bãi bồi ven sông, suối là khu vực sản xuất chính, canh tác quanh năm nhưng mùa mưa vẫn là chính vụ.

 

- Công cụ lao động như cuốc, bôn, rìu, hòn nghiền… xuất hiện sớm, đều được làm từ đá, về sau được thay thế bằng đồng, sắt.

- Cây lương thực có lúa, bắp (ngô), bo bo, kê, đậu, bầu, bí.

- Vật nuôi có chó, gà, heo (lợn), trâu, bò. Chăn nuôi chưa phát triển thành ngành kinh tế chính.

- Khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên giữ vai trò khá quan trọng trong đời sống của cư dân cổ Kon Tum. Xuống sông, suối đánh bắt cá chủ yếu bằng cách câu, đơm, xúc… Lên rừng lấy nấm, hái rau, đào củ mài; đặt bẫy, dùng lao, nỏ, săn bắt thú.

- Từ rất sớm, cư dân nơi đây đã dùng nguyên liệu từ rừng như : gỗ, tre, le, nứa, lồ ô… để làm chòi, nhà chồ(1) trên nương rẫy, làm nhà sàn để ở.

- Thuyền độc mộc(2) là phương tiện phổ biến để đi lại trên sông, suối. Thuyền là tài sản lớn, quý giá của mỗi hộ gia đình.

2. Đời sống tinh thần

- Tại di chỉ khảo cổ Lung Leng (thuộc xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum), các nhà khảo cổ học đã tìm thấy vòng tay, khuyên tai, hạt chuỗi bằng đá hoặc bằng đất nung. Trên đồ gốm còn có hoa văn hình con tiện, hình tròn. Điều đó chứng tỏ người tiền sử ở đây sớm có khiếu thẩm mỹ, thích trang sức và làm đẹp.

- Quá trình khai quật các di tích còn tìm thấy nhiều mộ táng : mộ đất, mộ kè gốm, mộ nồi vò úp nhau. Hiện vật chôn theo là dụng cụ lao động, vật dùng, đồ trang sức.

3. Những tiến bộ trong lao động và đời sống của cư dân Kon Tum thời đá mới

- Chuyển sang thời đá mới, cư dân cổ Kon Tum sinh sống với nhau theo đơn vị hành chính làng. Tên làng gắn liền với tên sông, suối, loài cây đặc thù, hoặc tên người có công lớn đối với buôn làng.

- Làng là tổ chức cộng đồng có sự gắn kết chặt chẽ và bền vững. Quan hệ làng là quan hệ láng giềng, có nhiều dòng họ. Các thành viên trong làng bình đẳng, nương tựa, tương trợ lẫn nhau. Đứng đầu làng là Già làng, đồng thời còn có Hội đồng già làng.

- Các làng ở gần nhau có quan hệ mật thiết, liên kết, liên minh với nhau khi cần (như săn thú, chống lũ, chống xâm lấn,...).

- Cách đây khoảng 4000 năm, cư dân cổ Kon Tum đã biết làm đồ gốm với nhiều loại phong phú, biết pha màu, tạo dáng bằng bàn xoay, in hoa văn, nung chín ở nhiệt độ cao.

- Đến cách đây khoảng 3000 – 1500 năm, cư dân ở đây đã biết chế tác và sử dụng công cụ kim loại. Tại nhiều di chỉ ở Kon Tum, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều đồ đồng như rìu đồng, giáo đồng, lao đồng, lục lạc đồng, khuôn đúc đồng cùng với xỉ sắt, quặng sắt, lò luyện sắt.

- Với lợi thế có nhiều bãi bồi ven các sông lớn (Pô Kô, Đăk Bla) và nhiều thung lũng suối, cư dân cổ Kon Tum đã biết trồng lúa cách ngày nay khoảng 3500 năm. Nền nông nghiệp trồng lúa ra đời và giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo cho cư dân cổ ở đây có cuộc sống ổn định và phát triển.

Câu hỏi củng cố:

  1. Cư dân cổ Kon Tum có đời sống vật chất và tinh thần như thế nào?
  2. Nêu những tiến bộ trong đời sống kinh tế - xã hội của cư dân cổ Kon Tum. Tiến bộ nào đã giúp cư dân Kon Tum có cuộc sống ổn định hơn trước ?

Chú thích:

(1) Nhà chồ: kho tạm trên nương rẫy.

(2) Thuyền độc mộc: thuyền làm từ một cây gỗ lớn.

Nguồn: Tài liệu giáo dục địa phương Kon Tum

Lịch sử

Lịch sử

 
Tìm hiểu lịch sử Kon Tum...
Thư Viện

Thư viện

 
Thư viện phim, hình ảnh, tư liệu...
Khám phá

Khám phá

 
Văn hóa, con người, phong tục...